Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011

Quảng trường Ngọ Môn

Trong những năm gần đây, giới báo chí gọi khu vực bãi đất trống nằm giữa Ngọ Môn và Kỳ Đài là “Quảng trường Ngọ Môn” vì nó nằm ở trước mặt Ngọ Môn. Dùng địa danh này xem ra là thích hợp hơn cả, vì Ngọ Môn cùng với Lầu Ngũ Phụng ở trên đó là một trong những công trình kiến trúc có giá trị nhất của Huế về các mặt lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, và đặc biệt nó là cái khán đài danh dự lý tưởng khi có cuộc lễ diễn ra ở quảng trường trước mặt nó.

Có một bãi đất trống nằm giữa Ngọ Môn và Kỳ Đài. Nói chính xác hơn, không gian ấy được giới hạn bởi đường 23 tháng 8 ở phía bắc, chân tường Kinh thành ở phía nam du lich thai lan, con đường ngắn sau cửa Thể Nhân (thường gọi là cửa Ngăn) ở phía đông và con đường ngắn sau cửa Quảng Đức ở phía tây. Chiều bắc nam của nó rộng gần 125m và chiều đông tây dài khoảng 360m.

Trong khi qui hoạch và xây dựng Kinh thành và Hoàng thành vào đầu thế kỷ XIX, các nhà kiến trúc triều Nguyễn đã thiết lập không gian trống này một cách có ý thức: vừa tạo ra một khoảng cách thích hợp giữa mặt tiền Hoàng thành và mặt tiền Kinh thành, hay nói cách khác, giữa Ngọ Môn và Kỳ Đài, vừa để cho triều đình có nơi để tổ chức một số cuộc đại lễ hoặc làm một số công việc cần thiết.

Không thấy triều đình bấy giờ đặt tên riêng chính thức cho quảng trường này. Chỉ thấy Nội các cho biết đây là nơi “Đại duyệt” hoặc nơi “Duyệt binh” tức là khu đất mà triều đình dùng để tổ chức những cuộc diễn tập vào đầu xuân hàng năm của các đơn vị bộ binh, trong đó có sự duyệt khán của vua và các đình thần cao cấp.

< Phía ngoài quảng trường Ngọ Môn trong lễ tế Nam Giao xưa.

Trong quyển “Souvenirs de Hué” được viết vào giữa thế kỷ XIX, một chứng nhân lịch sử từng sống tại Huế từ thời Gia Long (1802 - 1819) đến đầu thời Minh Mạng (1820 - 1840) là Michel Đức Chaigneau, đã gọi là khu đất này là “trường diễn binh nhỏ” (le petit champ de Mars, place de manoeuvres) để phân biệt với “trường diễn binh lớn” (grand champ de Mars) bấy giờ tọa lạc tại bờ bắc Sông Hương ở trước mặt Kinh thành .

Vào khoảng đầu thập niên 1930, khi khảo sát kỹ về các địa danh ở phạm vi Kinh thành Huế, Léopold Cadière đã gọi khu đất trống tại đó là “Hội đồng diễn quân trường” được dùng bằng tiếng Pháp là “champ de manoeuvre pour les troupes” , du lich teambuilding nghĩa là trường diễn binh của các đơn vị quân đội. Nhưng, nhà nghiên cứu này không cho biết tên gọi chữ Hán ấy đã lấy từ tư liệu nào.

Từ khi triều Nguyễn cáo chung vào năm 1945 đến nay, dân chúng địa phương Huế thường gọi nó một cách nôm na và dễ nhớ là “sân Cột Cờ”. Sở dĩ nói là “sân”, vì nó thường được dùng làm sân bóng đá, và gọi là “Cột Cờ”, vì khu đất này nằm sát chân Kỳ Đài, trên đó có cột cờ cao nhất nước (52,81m).

Trong những năm gần đây, giới báo chí gọi là khu vực ấy là “Quảng trường Ngọ Môn”, vì nó nằm ở trước mặt Ngọ Môn như trên đã nói. Dùng địa danh này xem ra là thích hợp hơn cả, vì Ngọ Môn cùng với Lầu Ngũ Phụng ở trên đó là một trong những công trình kiến trúc có giá trị nhất của Huế về các mặt lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, và đặc biệt nó là cái khán đài danh dự lý tưởng khi có cuộc lễ diễn ra ở quảng trường trước mặt nó.

Mỗi lần tổ chức lễ gì ở đây cũng có đông người tham dự. Lịch sử triều Nguyễn cho thấy rằng các cuộc lễ lớn từng diễn ra ở đây đều mang tính quốc gia, chẳng hạn như Lễ Truyền lô (đọc tên các Tiến sĩ tân khoa), Lễ Ban sóc (phát lịch), Lễ Duyệt binh hàng năm, Lễ Tứ tuần Đại khánh tiết của vua Khải Định (năm 1924), Lễ thoái vị của vua Bảo Đại (1945).

Tiếp tục sử dụng chức năng truyền thống đó, từ năm 1975 đến nay, chính quyền tỉnh thành sở tại đã tổ chức ở đây một số cuộc lễ long trọng có hàng vạn người tham dự. Ví dụ, gần đây nhất:

Vào ngày 26/3/1999, chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức ở Quảng trường Ngọ Môn cuộc Lễ Kỷ niệm 5 năm Quần thể Di tích Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn Hóa Thế giới và mừng 24 năm ngày Huế giải phóng, trong đó có khoảng 1 vạn người tham dự với sự hiện diện của nhiều quan chức Việt Nam và quốc tế.

Vào đêm 8/4/2000, chính quyền tỉnh sở tại đã phối hợp với một số cơ quan văn hóa nghệ thuật ở Trung ương, các địa phương và phía đối với tác Pháp, tổ chức cuộc Lễ Khai mạc Festival Huế 2000 tại quảng trường này, với sự hiện diện của nhiều quan chức cao cấp Việt-Pháp và hơn 2 vạn dân chúng địa phương cùng hàng ngàn du khách nội địa và quốc tế.

Mặc dù chức năng chính của Quảng trường Ngọ Môn từ xưa đến nay vẫn như nhau du lich campuchia, là dùng để tổ chức những cuộc lễ quan trọng mang tính quốc gia hoặc địa phương, nhưng diện mạo của nó đã có sự thay đổi ít nhiều qua thời gian.

Trong bộ sách “Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ”, Nội các Triều Nguyễn cho biết rằnng dưới thời Gia Long và đầu thời Minh Mạng, triều đình đã cho xây dựng ở hai bên quảng trường này 7 dãy nhà gồm 143 gian để che cho nhưng khẩu đại bác được đúc trong giai đoạn mấy chục năm ấy.

Những dãy nhà bằng gỗ lợp ngói này đã được gọi tên là “Tả Đại Tướng Quân Xưởng”, “Hữu Đại Tướng Quân Xưởng”, “Thượng Tướng Quân Xưởng”, “Tả Trung Tướng Quân Xưởng”, “Hữu Trung Tướng Quân Xưởng”. Từ “xưởng” ở đây có thể hiểu nghĩa là nhà chứa súng.

Đến năm 1832, khi bắt đầu nâng cấp bộ mặt kiến trúc của Hoàng thành, vua Minh Mạng đã cho dời một số dãy nhà súng ấy vào dựng “ở bên tả bên hữu trước cửa Ngọ Môn” .

Không thấy tư liệu nào cho biết rõ triều đình đã thiết trí bao nhiêu loại đại bác và bao nhiêu khẩu súng ở các dãy nhà súng hai bên Ngọ Môn. Nhưng, vào đầu thời Thành Thái (1889 - 1907), ở hai dãy nhà hai bên Ngọ Môn chỉ còn 9 khẩu “Thần oai Vô địch Thượng tướng quân “được đúc bằng đồng vào những năm 1803 - 1804 dưới thời Gia Long (Về sau, 9 khẩu súng lớn này thường được gọi là Cửu Vị Thần Công). Bấy giờ, ở dãy nhà bên trái, người ta đặt 4 khẩu mang tên “tứ thời”: Xuân, Hạ, Thu, Đông; và ở dãy nhà bên phải là 5 khẩu mang tên “ngũ hành”: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Vào năm 1896, triều đình Thành Thái đã cho di chuyển 5 khẩu bên phải qua đặt chung với 4 khẩu bên trái thành một dãy 9 khẩu. Lúc đó, dãy nhà bên phải trở thành “Mã khái” (Nhà để ngựa), và dãy nhà súng bên trái được gọi là “Pháo xưởng” .

Đến tháng 6/1917, dưới thời Khải Định, Nam triều đã cho Bộ Công đứng ra tổ chức di chuyển 9 khẩu thần công ấy một lần nữa và lại chia thành 2 nhóm, đặt ở 2 vị trí mới: 4 khẩu Tứ thời đặt ở phía sau cửa Thể Nhân và 5 khẩu Ngũ hành đặt phía sau cửa Quảng Đức, và xây 2 ngôi nhà bằng gỗ lợp ngói để bảo quản chúng . Đó chính là vị trí của Cửu Vị Thần Công mà chúng ta đang thấy hiện nay. Hai nhà súng này cho thấy rõ hơn nữa giới hạn chiều đông-tây của Quảng trường Ngọ Môn.

Mặt bằng của quảng trường này trong gần 200 năm qua, thường là một bãi đất trống. Một số ảnh chụp vào những thập niên đầu thế kỷ XX cho thấy triều đình có cho trồng một hàng dương liễu (cây filao) ở gần chân Kỳ Đài.

Có một trường hợp đặc biệt đã làm cho diện mạo của Quảng trường Ngọ Môn trở nên khác hẳn. Vào năm 1924, để cử hành cuộc lễ Tứ tuần Đại khánh tiết của mình, vua Khải Định đã cho xây dựng tạm thời tại quảng trường này một tòa cung điện ở gần chân Kỳ Đài du lich vung tau, mặt hướng về phía Ngọ Môn, và 2 dãy nhà ở 2 bên tòa cung điện, nằm đối diện nhau; đồng thời, chỉnh trang phần mặt sân ở khu vực trung tâm của quảng trường. Bấy giờ, người ta đã bố trí lại các thảm cỏ và đường đi lối lại. Các lối đi được lát gạch Bát Tràng. Nhìn chung, sự xây dựng, tôn tạo và trang hoàng lúc đó dù là tạm thời (trong một giai đoạn rất ngắn khi diễn ra cuộc lễ), nhưng trông thật tươm tất và đẹp đẽ...

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

Khó quên chốn cổ Gò Bồi

Từ thành phố Quy Nhơn (Bình Định), bạn chỉ cần thuê một chiếc xe máy và đi chừng 20km là đến đô thị cổ Gò Bồi (thôn Gò Bồi, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, Bình Định), nơi ghi dấu nhiều trầm tích văn hóa của người Chăm-pa, người Việt và người Hoa (người Minh Hương)…

< Bến sông Gò Bồi.

Khi đi thăm Gò Bồi, bạn chớ vội ăn sáng. Trên đường đi hãy ghé quán Bà Năm (ở thôn Mỹ Cang, xã Phước Sơn) để thưởng thức món bánh xèo tôm nhảy. Là một “thương hiệu” nổi tiếng ở Bình Định nhưng quán bánh xèo Bà Năm không treo biển hiệu nên bạn nhớ hỏi thăm người dân ven đường du lich phu quoc. Quán giản dị là thế dù một hay nhiều người ăn bao giờ cũng có 4 người phục vụ, phục vụ xong bàn này mới đến bàn khác. Cảm giác chờ đợi cũng làm tăng thêm vị ngon cho món ăn bởi khách ăn đến đâu bà Năm mới đúc bánh  đến đấy.

Đô thị Gò Bồi hình thành từ năm 1610, khi người Hoa đến đây lập phố buôn bán. Qua thời gian, Gò Bồi không còn như xưa nhưng bóng dáng đô thị cổ vẫn lẩn khuất đâu đó trên những mái ngói rêu phong, trong mỗi công trình xây dựng và cả lối sinh hoạt bình dị của mỗi người dân nơi đây.

Vùng đất này là nơi gắn liền với tuổi thơ của hai nhà thơ Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử du lich vung tau. Khi ghé thăm nhà tưởng niệm Xuân Diệu (tại làng Tùng Giản, xã Phước Hòa), bạn sẽ được xem nhiều hiện vật gốc rất quý về nhà thơ như những tập thơ nổi tiếng, những bài tiểu luận, phê bình...

Tiếp đến bạn nên đi thăm tháp cổ Bình Lâm (thôn Bình Lâm, xã Phước Hòa), một ngôi tháp do người Chăm xây dựng có kiến trúc được cho là xưa nhất ở Bình Định. Điểm đến tiếp theo của bạn là câu lạc bộ võ cổ truyền ở chùa Phước Long và sau đó là viếng mộ, tham quan nhà lưu niệm danh nhân Đào Tấn.

Sau khi thăm hầu hết các di tích ở Gò Bồi, trên đường về bạn đừng quên ghé thăm Tiểu chủng viện Lòng Sông (ở thôn Sanh Phương, xã Phước Sơn).

Đây là một tu viện được xây dựng gần 200 năm trước, có kiến trúc Gothic trầm mặc, cổ kính nằm giữa vùng quê sông nước và ruộng đồng mênh mông du lich thai lan. Phần chính diện của nhà thờ được trang trí bằng những ô đối xứng, các hoạ tiết trang trí và cổng vòm nhọn quen thuộc trong lối xây dựng kiến trúc thánh đường này. Nằm đối xứng với thánh đường là hai toà nhà xưa kia dành cho các tu sinh, được xây dựng mang đặc trưng kiến trúc kiểu Pháp.

Và cuối cùng, nếu bạn xây dựng cho mình và bạn bè một tour du lịch tại Gò Bồi thì đừng bỏ qua các món ăn truyền thống của vùng quê này như nem Chợ Huyện, bánh hỏi, bánh ít lá gai, các món cá đồng…

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011

Ngược Tây Bắc, thưởng thức rau ban

Ngược Tây Bắc, thưởng thức rau ban

Giờ thì mùa hoa ban đã nhường chỗ cho những mầm lộc non mơn mởn. Đó cũng là dịp để du khách đến với vùng đất lịch sử Điện Biên Phủ để được thưởng thức món ăn riêng chỉ có ở Tây Bắc - búp ban muối chua.

< Những quẩy búp ban còn xanh mơn mởn, nguyên mùi ngai ngái đặc trưng.

Rau ban là món “đưa cơm” truyền thống bao đời của đồng bào Thái vùng Tây Bắc, đặc biệt là ở Điện Biên.

Ấy là những búp ban mới chỉ có đôi lá, người Thái hái từ những cây ban trên đồi cao, mang về rửa sạch rồi cho vào vại muối như muối dưa cải ở miền xuôi. Búp ban muối, ăn với cá sông Nậm Rốm kho thì ngon không gì sánh được.

Chỉ qua đèo Pha Đin, mùa này hai bên đường đều có những người phụ nữ tần tảo đứng bên gùi búp ban xanh,xem du lich campuchia. Nhưng, muốn gì thì muốn, phải lên đến thành phố Điện Biên Phủ, bước chân vào chợ Mường Thanh, hòa vào những cánh khăn piêu, thấp thoáng trong dáng điệu áo váy của phụ nữ Thái mới cảm nhận được một “mùa xuân của búp ban” ở nơi này.

Những quẩy búp ban còn xanh mơn mởn, nguyên mùi ngai ngái đặc trưng. Rau của loài hoa đẹp, lại được người con gái Thái nhẹ nhàng gói lại, rồi đưa cho khách thì cái cảm giác mới nghĩ đến đã thấy là món ngon. Đi cả ngày thăm thú di tích lịch sử, bám theo nhịp sống trầm trầm ở cánh đồng Mường Thanh cũng đã làm du khách uể oải phần nào.

Ấy thế mà mâm cơm tối dọn ra, không thịt cá, giò chả thịnh soạn nhưng vẫn tiêu tan dần cái cảm giác ban chiều. Đó là khi thưởng thức món canh ban xanh biếc, dậy mùi ngai ngái. Ăn hết rồi lại vẫn muốn ăn thêm… Chưa đi hết được vùng đất Tây Bắc bao la, nhưng nơi cần đến của vùng lịch sử Điện Biên Phủ thì cũng đã gom đầy trong ảnh. Trở về xuôi, khó mà bỏ qua được những búp ban non, nếu là người đã thưởng thức. Vậy thì ghé qua chợ Mường Thanh mua cho  không còn chỗ nhồi trong ba lô mới chịu ra về.

Hoa ban là một trong những sản vật của núi rừng Tây Bắc. Cũng giống như búp ban, hoa ban cũng là thức ăn của đồng bào Thái ở Tây Bắc. Hơn thế, hình ảnh cánh ban trắng đã đi vào đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân Tây Bắc, nhất là bà con đồng bào Thái. Với đồng bào Thái, có lẽ không ai là không trải qua tuổi thanh xuân, với những trò chơi thú vị hái hoa ban và hát giao duyên. “Trăm năm ngắm ban nở còn ngắm mãi. Mỗi mùa ban lộc nảy thêm trẻ ra”. Câu ca của đồng bào Thái không chỉ lắng đọng về sức sống của loài cây ấy, mà còn như mời gọi bạn ngược đường đến với Tây Bắc, dù chỉ một lần cũng đủ để nhận ra.
website:cong ty du lich tuoi tre

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Vượt hai đảo về Long Hải

Rồi bọn mình cũng tới Mũi Nghinh Phong và tấp xe qua bên kia đường, suốt đoạn này là công viên. Đường xá thoáng rộng với lề đường lót gạch đá lớn thật phẳng phiu dưới hàng cây xanh thẳng tắp xào xạc trong gió.

Cảnh tượng nơi đây hoàn toàn khác hẳn 24 năm về trước: khi ấy bọn mình đến đây với đứa con nhỏ chỉ mới 3 tuổi.Xem du lich phan thiet

< Gió rất mạnh, mạnh đến mức giữ thế để bấm một tấm ảnh cũng thật khó khăn...

Ngày ấy, đường khoảng này chỉ be bé chạy vòng từ bãi Trước qua Ô Quắm đến bãi Sau. Ngay Mũi đá là một nhà hàng nhỏ cửa đóng then cài. Còn phía trái: đoạn có con đường dốc cong cong rẽ trái đi lên là khu nhà nghỉ rất hoang sơ nhưng khá đẹp và tiện nghi - lúc ấy do hai người bạn cai quản...

< Đường rộng thênh thang, khá vắng trong ngày thường...

Cái thuở hồng hoang mà xe gắn máy vẫn còn là đồ "xa xỉ" (1987), bọn mình chỉ đơn thuần là bắt xe đò ra Vũng Tàu rồi bắt xe ôm lên Nghinh Phong. Tay xe ôm ma mãnh chỉ đưa bọn mình tới lửng lửng dốc rồi nói rằng: đến rồi, anh đi bộ lên tý nữa...

Nói là "tý nữa" nhưng thật ra thì mất đến gần nữa giờ làm bộ hành leo dốc với hai túi hành lý nặng trĩu, với đứa con bé bỏng mà bà xã dắt lẻo đẽo theo sau trong cái nắng kinh người...

< Biển bạc có lẽ không thay đổi, còn những thứ khác thì...

Ba đứa mồ hôi nhể nhại lếch thếch đi, chỉ được an ủi bằng tiếng sóng biển cùng cảnh vật hoang sơ, cuối cùng thì cũng đến được nơi phải đến. Mừng mừng vui vui với những cái bắt tay chào đón bè bạn phương xa. Hỏi thăm, thăm hỏi mọi thứ rồi bọn mình nhận phòng.

Giữa nơi hoang vắng mới biết ngoài hai người quản lý thì các cô tại đây toàn là "gái" cả. Tuy nhiên: cái cộng đồng bé nhỏ đó lại chan chứa tình người sau 3 ngày bọn mình nghỉ tại chốn đây - gái điếm chưa hẳn là xấu, lắm khi gái đẹp nhưng trong lòng lại "xấu" trăm bề.

< Bãi tắm Nghinh Phong ngày nay: mua vé nào...

Bé con mình được các cô cưng như trứng, còn khung cảnh chung quanh thì tuyệt vời đến không thể diễn tả được: sau nhà là núi, đây chính là đỉnh Tương Phùng (Tao Phùng, một trong hai đỉnh của Núi Nhỏ) với phía trên là tượng chúa Jesus dang tay như muốn chở che, đón nhận cả vùng biển của đất mẹ mênh mông.
Nhìn xuống phía dưới là bãi Ô Quắm (bãi tắm Nghinh Phong ngày nay) không một chút rác, không bóng người ngoài vài dáng dân chài đị phương kéo lưới bắt những con cá nhái có đầu nhọn hoắc vào buổi sớm mai. Muốn tắm thì cứ việc băng qua đường rồi xuống bãi, hòa người trong lòng biển trong xanh.

< Nhà hàng New Ô Quắm trên mũi đá.

Tài sản "đi đứng" của khu nhà nghỉ chỉ là chiếc xe đạp cũ - bạn đưa bọn mình mượn để đèo nhau xuống phố. Dạo mát, ăn vặt - mình còn nhớ đã mua một chai rượu trắng ở một cửa hàng thương nghiệp trên phố để khề khà dưới bãi cho vui.

Chừng về, đèo nhau lốc cốc lên dốc mới phê: gió ngược nên lưng không kịp đẫm mồ hôi. Tiếng sóng vổ ì ầm như thôi thúc mình guồng từng vòng đạp... rồi cũng đến cua rẽ lên nhà nghỉ ẩn hiện trong ánh sáng vàng vọt, leo lét của đèn đường - Mình ốm nhưng hồi ấy cũng khỏe thật!

< Gió thốc đến vặn cả người, lúc này cái kiếng mát móc trên cổ bay mất tiêu hồi nào cũng không hay...

Đỉnh có tượng Chúa lúc ấy chưa có thang lát đá như bây giờ nên lối lên là lối mòn bên kia núi. Mé núi hướng Đông là công trường khai thác đá, nơi mà bây giờ là bãi đổ xe.
Phía sau khu nhà có giếng nước trong vắt, cung cấp nước cho nhà nghỉ qua máy bơm. Kề cận là lối mòn cheo leo, nơi cha con mình hì hục nắm tay nhau trèo lên cao, thật cao đến mãi tận gần tương Chúa dang tay. Liều lĩnh thật khi kè kè kề bên là đứa con trai 3 tuổi...

< Xe chống tít đàng kia - dựng xe cũng phải xem hướng gió vì nếu ngược lại thì gió sẽ xô ngã liền. Bước chân đi cũng phải đố người về phía trước kẻo bị ngã! Như vậy mới xứng tên là mũi NGHINH PHONG!

Cuối cùng thì hai cha con cũng được đền đáp bằng khung cảnh trời biển bao la rộng hết tầm mắt, thằng bé khoái lắm, im thinh thít, mắt tròn xoe dõi mắt ngắm nhìn đất trời và những đợt sóng vỗ.Xem du lich mien bac
< Lên xe, bọn mình chạy xuống dốc rồi dừng lại ở bãi tắm tự do phía đầu bãi Sau - gió dưới này ít hơn...

Ngày nay: con đường lên tượng Chúa cũng là con đường vòng qua khu nhà nghỉ - Khu nhà nghỉ vẫn còn nhưng thay đổi hoàn toàn.

Ngày nay: muốn xuống bãi Ô Quắm, muốn ra mũi Nghinh Phong phải trá phí vì là nơi kinh doanh.
< Đảo nhỏ Hòn Bà phía ngoài kia. Gió mạnh khiến nước biển tung mịt mù vào đất liền như một màn sương. Về chắc chắn phải lau lại ống kính máy ảnh.

Nghinh Phong bây giờ được định nghĩa như sau:

Mũi Nghinh Phong nằm ở hướng cực nam Thành Phố Vũng Tàu, mũi nhô ra biển Đông trông như một chiếc đầu cá sấu khổng lồ. Quanh mũi có nhiều tảng đá lớn hình thù kỳ dị vô cùng lạ mắt, đây là nơi hẹn hò tuyệt vời cho những người thích câu cá và ưa mạo hiểm.

< Bãi tắm tự do - có lẽ nhờ phần đất từ đường đến mép biển không nhiều nên là vân là bãi tắm của cộng đồng. Quá 1km tình từ Nghinh Phong là bắt đầu tấp cập các KDL, nhà hàng sán sát y nhưng những điểm du lịch nóng khác.

Cạnh mũi là bãi tắm Vọng Nguyệt, trước kia còn gọi là bãi Ô Quắm. Bãi này hẹp nhưng nước rất sạch, sóng gió dồn dập với ba bề vách đá cheo leo vô cùng hùng vĩ.
Vọng Nguyệt có nghĩa là đón trăng. Những đêm vào mùa trăng mọc hay lúc hoàng hôn, biển ở đây sáng rực như được dát một lớp bạc óng ánh.

< Bọn mình lên xe trở về, cuối đường chính phải ngoặc trái vì đụng khu bãi tắm lớn nhất VT: khu du lịch Chí Linh. Ngày xưa nơi này là rừng Chí Linh bạt ngàn...

Bên tiếng sóng rì rào, trước mặt biển sáng bạc mênh mông, du khách sẽ có cảm giác cái mênh mông bao la của trời mây sóng nước, của vũ trụ vô cùng vô tận lâng lâng bay bổng trong tâm hồn.

Nước biển ở đây rất trong và sạch. Bờ biển ít thoải, sâu hơn các bãi tắm khác ở Vũng Tàu, phù hợp với những người thích cảm giác mạnh từ những ngọn sóng lớn. Không ồn ào, náo nhiệt như ở bãi Trước. Không thoáng đãng, dữ dội như ở bãi Sau.

< Trên đường 3 tháng 2 trở về, mình thấy một ngõ rẽ nên chạy vào - Ý định là tìm đường ra đồi Nhái.

Nếu có hứng thú leo núi, bạn có thể leo lên núi Nhỏ (Tao Phùng). Nơi đây có tượng Chúa Giêsu cao 32 mét, hai tay dang rộng hướng ra Thái Bình Dương, cao 176m so với mực nước biển. Hai cánh tay dài 18,4m như chào đón du khách đến các bãi biển đông người của khu nghỉ mát này.
< Gặp doanh trại QĐ có bảng "cấm chụp hình", rẽ trái vẫn là khu dân cư thưa thớt và "Làng du lịch Chí Linh".

Từ chân núi lên tới tượng Chúa bạn phải leo khoảng 800 bậc thang. Đây là một công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng vào loại bậc nhất tại Vũng Tàu và là một trong hai tượng Chúa lớn nhất thế giới (một tượng ở Brazil).
< Qua một đoạn dốc khá cao, cây xanh mọc kín hai bên...

Bãi Vọng Nguyệt không dài nhưng đủ để đi vào tiềm thức của người dân Vũng Tàu qua bao thế hệ bởi sự nên thơ, kỳ bí. Nhất là khi đứng từ tượng Chúa Kitô trên đỉnh Tao Phùng nhìn xuống: du khách sẽ có cảm giác biển ở đây xanh hơn những nơi khác, lộng gió và mát mẻ lạ thường.
< Rồi gặp các ngã 3, ngã 4 tùm lum. Đây chắc chắn không phải đường vào đồi Nhái rồi vì mình đã xem sơ qua trên bản đồ vệ tinh...

Nghinh Phong vẫn còn đó dù đổi thay hoàn toàn, chỉ duy nhất còn nguyên vẹn như ngày cũ - Một ngày xưa ấy... ở trong lòng người lữ khách viễn du một thời xa vắng...Xem du lich mien tay
< Nhưng không phải cũng chạy loanh quanh một tý - ở đâu cũng cũng có cái thú riêng...
< Cuối cùng thì mình trở ra đường 3 Tháng 2, ngã rẽ vào đồi Nhái chắc khúc trên kia.
< Và đây rồi: khoảng đường đất dài tít tắp với phía bên trái là hồ nước rộng. Mình chạy thẳng vào.
< Chỉ hàng cột điện là có dáng dấp mùi vị tân thời một tý, còn chung quanh thật tuyệt...
< Dốc lên đồi, một trong những ngọn đồi tại khu đồi Nhái.

Ngày xưa nơi này chỉ toàn là rừng dươngvới đồi cát, không người ở. Bay giờ thì có thôn làng nhưng thưa nhà: một sự hiếm hoi giữa lòng thành phố biển đang phát triển thật nóng - Một ốc đảo giữa bạt ngàn khu du lịch...
< Thông tin trên mạng về đồi Nhái không có gì ngoài chuyện "Xẻ thịt đồi Nhái lấy cát" ảnh hưởng rất lớn đến việc xâm thực của biển và tác động xấu đến môi trường - Chuyện bọn xấu ra tòa vì cướp của, còn dám cưỡng bức thiếu nữ tại đây...

"Xấu" xẩy ra là do con người - đất chả có nơi nào tự mang tiếng xấu cả.
< Bà xã thích đi bộ nên mình chạy trước.

Chả to gan lớn bụng gì nhưng bọn mình vẫn vậy, thích chốn thiên nhiên hoang vắng - thích đi nơi mà chả mấy ai đi: Đất sợ người chừ hà cớ gì người sợ đất nhỉ?

Mình nghỉ là cuối đường sẽ đến biển, để rồi xem sao nào..(cong ty du lich - sưu tầm)